• Sales: Anh Nguyễn
  • 0909 693 720
  • testsera.vn@gmail.com

Sản xuất thủy sản của Việt Nam 2017

Sản xuất thủy sản của Việt Nam 2017

Rate this post

Sản xuất thủy sản năm 2017 có nhiều khởi sắc. Sản lượng thủy sản đạt hơn 7,28 triệu tấn, tăng 5,6% so với năm trước; trong đó cá đạt 5.192,4 nghìn tấn, tăng 4,8%; tôm đạt 887,5 nghìn tấn, tăng 8,8%. Nuôi trồng thủy sản đạt 3.858 ngàn tấn, tăng 5,5% so với năm trước; trong đó cá đạt 2.694,3 nghìn tấn, tăng 4,2%; tôm đạt 723,8 nghìn tấn, tăng 10,3%.

I. SẢN XUẤT THỦY SẢN CỦA VIỆT NAM

Nước ta có hệ thống sông ngòi dày đặc và có đường bờ biển dài 3260 km rất thuận lợi phát triển hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản. Sản lượng thủy sản của Việt Nam đã duy trì tăng trưởng liên tục trong 17 năm qua với mức tăng trưởng bình quân là 9,07%/năm. Với chủ trương thúc đẩy phát triển của chính phủ, hoạt động nuôi trồng thủy sản đã có những bước phát triển mạnh, sản lượng liên tục tăng cao trong các năm qua, bình quân đạt 12,77%/năm, đóng góp đáng kể vào tăng trưởng tổng sản lượng thủy sản của cả nước.

San xuat thuy san cua Viet Nam nam 20171. Sản xuất thủy sản năm 2017

Theo báo cáo của tổng cục thủy sản, cả năm 2017, tổng sản lượng thủy sản đạt hơn 7,28 triệu tấn, tăng 5,6% so với năm 2016, bao gồm sản lượng thủy sản khai thác đạt gần 3,42 triệu tân, tăng 5,7%; sản lựng thủy sản nuôi trồng trên 3,86 triệu tấn, tăng 5,5%; diện tích nuôi trồng 1,1 triệu ha. Tỷ trộng sản lượng nuôi trồng chiếm 53,0% tổng sản lượng (năm 2016 là 54,2%).

  • Khai thác thủy sản

Ước cả năm 2017 sản lượng khai thác thủy sản ước đạt 3.421 ngàn tấn, tăng 5,7% so với năm 2016, trong đó: ước khai thác biển đạt 3.221 ngàn tấn, tăng 5,7% so với năm 2016; khai thác nội địa ước đạt 200 ngàn tấn, tăng 5,7% so với năm 2016.

  • Nuôi trồng thủy sản

Sản lượng nuôi trồng thủy sản năm 2017 ước đạt 3.858 ngàn tấn, tăng 5,5% so với năm 2016.

Năm 2017, diện tích nuôi tôm nước lợ cả nước đạt 721,1 nghìn ha; tăng 3,8% so với năm 2016 trong đó diện tích tôm sú là 622,4 nghìn ha: tăng 3,7% và diện tích tôm thẻ chân trắng là 98,7 nghìn ha; tăng 4,7% so với năm 2016.

Sản lượng tôm nước lợ năm 2017 đạt 638,4 nghìn tấn, tăng 4% so với năm 2016 trong dó sản lượng tôm sú 256,4 nghìn tấn; giảm 2,8% và sản lượng tôm chân trắng 427 nghìn tấn, tăng 8,5% so với năm 2016.

Kết quả sản xuất thủy sản năm 2017

Đơn vị tính: Sản lượng (1.000 tấn), Diện tích: (1.000 ha), Số lượng người (1.000 người), Giá trị kim ngạch (triệu USD), GTSX (tỷ đồng)

TT

Chỉ tiêu

Kế hoạch năm 2017

Thực hiện 2016

Ước thực hiện 2017

So sánh (%)

Với KH

Với năm 2016

I

Giá trị sản xuất

105%

200.902

212.985

106,0

Thủy sản khai thác

78.630

83.482

106,2

Thủy sản nuôi trồng

122.272

129.503

105,9

II

Tổng sản lượng

7.000

6.895

7.279

104,0

105,6

1

Sản lượng khai thác

3.300

3.237

3.421

103,7

105,7

Sản lượng khai thác hải sản

3.047

3.221

105,7

Sản lượng khai thác nội địa

190

200

105,3

2

Sản lượng nuôi
Tôm sú

265

263,8

256,4

96,8

97,2

Tôm thẻ chân trắng

410

393,4

427,0

104,1

108,5

III

Diện tích nuôi
Tôm sú

600

600,4

622,4

103,7

103,7

Tôm thẻ chấn trắng

100

94,2

98,7

98,7

104,7

IV

Kim ngạch xuất khẩu
Tôm sú

931

880

94,6

Tôm thẻ chân trắng

1.958

2.535

129,5

2. Nguồn nguyên liệu trong nuôi trồng thủy sản

Trong ngành thủy sản, nguồn nguyên liệu bao gồm con giống, thức ăn, thuốc thủy sản và hoạt động nuôi trồng. Các doanh nghiệp thủy sản Việt Nam hầu như chưa thật sự khép kín toàn bộ qui trình nguồn nguyên liệu của mình, nên tình trạng thiếu hụt và chất lượng nguồn nguyên liệu thủy sản luôn là bài toán nan giải cho các doanh nghiệp.

  • Nguồn con giống trong nuôi trồng thủy sản

Nguồn con giống trong hoạt động của ngành thủy sản đóng vai trò rất quan trọng, nó là khâu đầu tiên trong chuỗi giá trị của ngành thủy sản, nên có khả năng sẽ ảnh hưởng đến tất cả các khâu còn lại của chuỗi sản xuất. Nhưng hiện chất lượng nguồn con giống thủy sản ở Việt Nam khá thấp.

Đối với tôm, chất lượng nguồn tôm giống đang là vấn đề đáng báo động. Hiện lượng tôm giống đã qua kiểm dịch chưa cao, tôm bố mẹ gần như phụ thuộc hoàn toàn vào khai thác tự nhiên nên chất lượng không đồng đều. Việc quản lý nhà nước về tôm giống còn nhiều bất cập ngay từ khâu nhập khẩu tôm bố mẹ.

Số lượng các cơ sở sản xuất giống thủy sản:

Giống tôm nước lợ: Tính đến 31/10/2017, cả nướ có 2.422 cơ sở sản xuất giống tôm nước lợ, trong đó 1.865 cơ sở sản xuất giống tôm sú và 566 cơ sở sản xuất giống tôm thẻ chân trắng.

Tình hình nhập khẩu tôm bố mẹ và cung ứng giống: Tính đến 10/11/2017, đã có tổng số 183.421 con tôm giống bố mẹ nhập khẩu được kiểm tra chất lượng (tương ứng với 337 lô hàng của 162 cơ sở nhập khẩu).

  • Thức ăn cho vùng nuôi thủy sản

Theo Tổng cục Thủy sản, hiện nước ta có khoảng 130 nhà máy sản xuất thức ăn thủy sản với sản lượng 3,77 triệu tấn, đáp ứng 85,6% nhu cầu trong nước. Trong đó, 68 cơ sở thức ăn tôm sú và 38 cơ sở thức ăn tôm thẻ chân trắng. Tỉ lệ thức ăn thủy sản phải nhập khẩu của nước ta ngày càng giảm dần, nhưng nguồn nguyên liệu để sản xuất thức ăn (như ngôn, khô dầu đậu nành, đậu tương, bột cá, dầu cá hồi, nhóm các acid amin…) vẫn phụ thuộc lớn vào nhập khẩu với hơn 50%.

Hiện thị phần thức ăn thủy sản gần như nằm trong tay các doanh nghiệp nước ngoài. Đặc biệt, thị trường thức ăn cho tôm gần như là “độc bá” 100% của các doanh nghiệp Uni-President (Đài Loan, 30 – 35% thị phần), CP (Thái Lan), Tomboy (Pháp)…, các doanh nghiệp trong nước hầu như không chen chân vào được.

  • Hoạt động nuôi tôm

Nước ta với hệ thống sông ngòi dày đặc và có đường bờ biển dài hơn 3.260km, nên rất thuận lợi phát triển hoạt động nuôi trồng thủy sản.

Đối với tôm: Là loài sống phù hợp ở các vùng nước lợ gần biển. Với đặc trung này, Miền Trung, Nam Trung Bộ (Khánh Hòa, Phú Yên, Ninh Thuận, Bà Rịa – Vũng Tàu…), Đồng Bằng Sông Cửu Long (Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Cà Mau, Kiên Giâng) là nơi tập trung sản lượng tôm nuôi nhiều nhất cả nước. Do là loài chân khớp có thể trạng nhỏ, thân mềm, nên công tác nuôi tôm phức tạp và khó khăn. Tôm sú có đặc tính phúc tạp hơn, thường mất khaongr 5 tháng từ lúc thả đến lúc thu hoạch, trong khi tôm thẻ chân trắng dễ thích nghi hơn chỉ mất khoảng 3 tháng.

Từ năm 2011 đến nay, tình hình thời tiết diễn biến phức tạp, chất lượng tôm không đảm bảo, dịch bệnh trên tôm nuôi bắt đầu lan rộng, gây thiệt hại nặng, đặc biệt là tôm sú. Nguyên nhân dịch bệnh EMS thời gian được xác định do vi khuẩn Vibrio parahaemolytics. Vi khuẩn này đã bị nhiễm bởi một loại thể thực khuẩn (phagc) sinh ra độc tố cực mạnh gây hội chứng hoại tử gan tụy cấp cho tôm nuôi. Với việc tìm ra nguyên nhân của dịch bệnh, các cơ quan chức năng đang đề ra các biện pháp, hướng dẫn nuôi trồng, nhằm ngặn chặn hoàn toàn dịch bệnh trong thời gian tới.

3. Các vùng hoạt động thủy sản mạnh trong nước

Hoạt động sản xuất, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam nằm rải rác dọc đất nước với sự đa dạng về chủng loại thủy sản, nhưng có thể phân ra thành 5 vùng xuất khẩu lớn:

Vùng Bắc Trung Bộ, duyên hải miền Trung: nuôi trồng thủy sản nước lợ, đặc biệt phát huy thế mạnh nuôi biển, tập trung vào một số đối tượng chủ yếu: tôm các loại, sò huyết, bào ngư, cá song, cá giò, cà hồng…

Vùng ven biển Nam Trung Bộ: nuôi trồng thủy sản nước lợ, với một số đối tượng chủ yếu: cá rô phi, tôm các loại…

Vùng Đông Nam Bộ: bao gồm 4 tỉnh là Ninh Thuận, Bình Thuận, Bà Rịa – Vũng Tàu và TP.HCM, chủ yếu nuôi các loại thủy sản nước ngọt hồ chứa và thủy sản nước lợ như cá song, cá giò, cá rô phi, tôm các loại…

Vùng ven biển Đồng Bằng Sông Cửu Long: gồm các tỉnh ven biển của Đồng Bằng Sông Cửu Long như Tiền giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang… Đây là khu vực hoạt động thủy sản sôi động, hoạt động nuôi trồng thủy sản trên tất cả các loại mặt nước, đặc biệt là nuôi tôm, cá tra – basa, sò huyết, nghêu và một số loài cá biển.

Các tỉnh nội vùng: bao gồm những tỉnh nằm sâu trong đất liền nhưng có hệ thống sông rạch khá dày đặc như Hà Nội, Bình Dương, Cần Thơ, Hậu Giang, Đồng Tháp, An Giang, thuận lợi cho nuôi trồng các loài thủy sản nước ngọt: cá tra – basa, cá rô phi, cá chép…

Khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long, với điều kiện lý tưởng có hệ thống kênh rạch chằng chịt và nhiều vùng giáp biển, đã trở thành khu vực nuôi trồng và xuất khẩu thủy sản chính của Việt Nam. Theo thống kê, năm 2011 cả nước có 37 tỉnh có doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản, trong đó các tỉnh có kim ngạch xuất khẩu thủy sản lớn nhất lần lượt là Cà Mau, TP.HCM, Cần Thơ, Đồng Tháp, Khánh Hòa, Sóc Trăng…

II. NGÀNH CHẾ BIẾN, XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM

1. Vai trò của ngành chế biến thủy sản trong kinh tế quốc dân

Ngành chế biến thủy sản hiện nay phát triển thành một ngành kinh tế mũi nhọn, ngành sản xuất hàng hóa lơn, đi đầu trong hội nhập kinh tế quốc tế. Với sự tăng trưởng nhanh và hiệu quả, thủy sản đã đóng góp tích cực trong chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, đống góp hiệu quả cho công cuộc xóa đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm cho trên 4 triệu lao động, nâng cao đời sống cho cộng đồng dân cư khắp các vùng nông thôn, ven biển, đồng bằng, trung du, miền núi…, đồng thời góp phần quan trọng trong bảo vệ an ninh quốc phòng trên vùng biển đảo của Tổ Quốc.

Tổng sản phẩm nông lâm thủy sản trong nước theo giá hiện hành

Thực hiện (Tỷ đồng)

Cơ cấu (%)

Năm 2012

Ước tính năm 2013

Năm 2012

Năm 2013

GDP toàn quốc 3.245.419 3.584.261 100,00 100,00
Nông, lâm nghiệp và thủy sản 638.368 658.981 19,67 18,39
Nông nghiệp 495.592 503.556 15,27 14,05
Lâm nghiệp 20.840 23.996 0,64 0,67
Thủy sản 121.936 131.429 3,76 3,67

2. Lợi thế của ngành chế biến thủy sản Việt Nam

Có nguồn nguyên liệu lớn và ổn định; có tiềm năng lớn phát triển diện tích nuôi biển, nuôi sinh thái các giống loài thủy hải sản tạo nguồn cung lớn.

Sản phẩm thủy sản đa dạng, phong phú: tiềm năng nâng cao giá trị gia tăng còn lớn và khả năng đa dạng hóa các sản phẩm xuất khẩu thủy sản.

Có ưu thế về sản lượng tôm sú và có thị phần tuyệt đối về cá tra.

Có lực lượng lao động lớn.

Có tới 160 thị trường ở 5 châu lục, doanh số xuất khẩu tập trung chủ yếu ở 3 thị trường lớn EU, Mỹ, Nhật Bản. Tiềm năng phát triển thị trường còn lớn.

Công nghệ chế biến thủy sản xuất khẩu đạt trình độ tiên tiến, đáp ứng yêu cầu quốc tế.

Có khả năng áp dụng khoa học công nghệ để giảm giá thành, tăng giá bán các sản phẩm thủy sản xuất khẩu.

An toàn vệ sinh thực phẩm được quản lý, đúng quy chuẩn quốc tế.

3. Sản xuất tôm nguyên liệu

Trong những năm gần đây, diện tích và sản lượng tôm nuôi không ngừng tăng, đến năm 2017, diện tích nuôi tôm nước lơn đạt 721.100 ha với sản lượng 638.400 tấn.

Cả nước có khoảng 160 doanh nghiệp tham gia chế biến, xuất khẩu tôm, tập trung chủ yếu ở Miền Trung, Nam Trung Bộ (Khánh Hòa, Phú Yên, Ninh Thuận, Bà Rịa – Vũng Tàu…), Đồng Bằng Sông Cửu Long (Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Cà Mau, Kiên Giang), với tổng công suất chế biến đạt gần 1 triệu tấn sản phẩm/năm.

Năm 2017, Việt Nam xuất khẩu tôm sang 99 thị trường, với tổng giá trị đạt 3,85 tỷ USD, một số thị trường chủ lực của tôm Việt Nam là: Mỹ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, ASEAN, Australia, Brazil, Mexico.

4. Công đoạn thu gom, sơ chế, chế biến tôm

Tôm nguyên liệu được thug om từ nhiều nguồn manh mún, nhỏ lẻ làm cho chất lượng không đồng nhất, rất khó kiểm soát dư lượng hóa chất, kháng sinh bị cấm và không thể truy xuất được nguồn gốc, khó sử dụng để chế biến hàng xuất khẩu cao cấp nên hiệu quả chế biến xuất khẩu không cao.

Việc chế biến các sản phẩm GTGT từ tôm còn ít, chỉ chiếm khoảng 30%, còn lại 70% là xuất khẩu dưới dạng nguyên liệu, sơ chế, bán thành phẩm tươi/sống/đông lạnh.

III. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGÀNH TÔM

Phát huy tiềm năng về điều kiện tự nhiên (đặc biệt là lợi thế về nuôi tôm sú), các lợi thế về thị trường, công nghệ chế biến và kinh nghiệm của người dân để phát triển ngành tôm hiệu quả, bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu.

Đồng thời phát triển ngành tôm theo quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao và các thành tựu khoa học kỹ thuật mang tính đột phá, thân thiện môi trường, phù hợp với đặc điểm sinh thái từng vùng để tăng năng suất, tạo ra khối lượng sản phẩm lớn, có chất lượng cao (đạt chứng nhận uy tín như tôm sinh thái, hữu cơ, GAP). Hướng tới không sử dụng hóa chất, thuốc kháng sinh ở tất cả các phương thức nuôi và các khâu trong chuỗi sản xuất, lưu thông sản phẩm tôm.

Bên cạnh sso phát triển sản xuất găn chạt với nhu cầu của thị trường tiêu thụ sản phẩm; nâng cao chất lượng và xây dụng thương hiệu cho các sản phẩm tôm Việt Nam; đầu tư phát triển ngành tôm theo tư duy hệ thống và chuỗi giá trị, trong đó doanh nghiệp đóng vai trò dẫn dắt và là động lực của toàn chuỗi giá trị.

 

About The Author

Trường Thịnh
TEST SERA VN

LIÊN HỆ: 0903.726.051


Gọi: 0903.726.051

Địa chỉ:

Web: www.TestSERA.vn

Email: testsera.vn@gmail.com

Thời gian:

24/24 (mọi lúc mọi nơi).

Facebook:

Điện thoại: